Ngày 26/11/2024, Quốc hội chính thức thông qua Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 (thay thế cho Luật Thuế giá trị gia tăng 2008) có hiệu lực từ ngày 01/07/2025.
Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 mang đến nhiều điểm thay đổi quan trọng, tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cả người tiêu dùng. Trong đó phải kể đến 06 điểm mới nổi bật, bao gồm những điều chỉnh về đối tượng chịu thuế, các trường hợp được khấu trừ và hoàn thuế, cũng như các quy định nhằm ngăn chặn hành vi gian lận trong lĩnh vực thuế GTGT.
Luật Việt Anh xin phép phân tích chi tiết 06 điểm mới quan trọng trong Luật Thuế giá trị gia tăng 2024, giúp các doanh nghiệp nắm bắt kịp thời để áp dụng vào việc điều chỉnh hoạt động, tuân thủ pháp luật và tối ưu hóa nghĩa vụ thuế.
1. Điều chỉnh đối tượng không chịu thuế GTGT
Tại Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 điều chỉnh các quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT tại Điều 5 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 như sau:
– Lược bỏ một số đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng
+ Phân bón; máy móc, thiết bị chuyên dùng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; tàu đánh bắt xa bờ;
+ Lưu ký chứng khoán; dịch vụ tổ chức thị trường của sở giao dịch chứng khoán hoặc trung tâm giao dịch chứng khoán; hoạt động kinh doanh chứng khoán khác…
– Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác đã chế biến thành sản phẩm khác không chịu thuế GTGT phải áp dụng theo Danh mục do Chính phủ quy định.
Trước đây, Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 quy định: Sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
– Bổ sung hàng hóa nhập khẩu ủng hộ, tài trợ cho phòng chống thiên tai, thảm họa dịch bệnh, chiến tranh theo quy định của Chính phủ là đối tượng không chịu thuế GTGT.
2. Sửa đổi quy định giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu
Tại Điều 7 của Luật Thuế Giá trị gia tăng 2024 quy định về giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu như sau:
Giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là trị giá tính thuế nhập khẩu theo quy định của pháp luật về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu cộng với các khoản thuế là thuế nhập khẩu bổ sung theo quy định của pháp luật (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và cộng với thuế bảo vệ môi trường (nếu có).
Hiện tại, theo Điều 7 của Luật Thuế Giá trị gia tăng 2008, giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có) và cộng với thuế bảo vệ môi trường (nếu có). Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu.
3. Bổ sung giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại
Tại Điều 7 Luật Thuế Giá trị gia tăng 2024 bổ sung quy định mới:
Giá tính thuế của hàng hóa và dịch vụ sử dụng cho mục đích khuyến mại, theo quy định của pháp luật về thương mại, sẽ được xác định là 0.
4. Bổ sung và điều chỉnh thuế suất thuế giá trị gia tăng của một số hàng hóa, dịch vụ
Tại Điều 9 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 điều chỉnh thuế suất của một số hàng hóa, dịch vụ như sau:
– Bổ sung thêm một số đối tượng áp dụng thuế suất 0%
+ Vận tải quốc tế;
+ Các công trình xây dựng, lắp đặt tại nước ngoài hoặc trong khu phi thuế quan;
+ Hàng hóa đã bán tại khu vực cách ly cho cá nhân (người nước ngoài hoặc người Việt Nam) đã làm thủ tục xuất cảnh; hàng hóa đã bán tại cửa hàng miễn thuế;
+ Dịch vụ xuất khẩu gồm: Dịch vụ cho thuê phương tiện vận tải được sử dụng ngoài phạm vi lãnh thổ Việt Nam; Dịch vụ của ngành hàng không, hàng hải cung ứng trực tiếp cho vận tải quốc tế hoặc thông qua đại lý.
– Các sản phẩm không chịu thuế chuyển sang chịu thuế 5%
+ Phân bón;
+ Tàu khai thác thủy sản tại vùng biển.
– Các sản phẩm áp dụng thuế suất 5% chuyển sang 10%
+ Lâm sản chưa qua chế biến;
+ Đường; phụ phẩm trong sản xuất đường, bao gồm gỉ đường, bã mía, bã bùn;
+ Các loại thiết bị, dụng cụ chuyên dùng cho giảng dạy, nghiên cứu, thí nghiệm khoa học;
+ Hoạt động văn hóa, triển lãm, thể dục, thể thao; biểu diễn nghệ thuật; sản xuất phim; nhập khẩu, phát hành và chiếu phim.
5. Thay đổi điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
– Mua vào hàng hóa, dịch vụ dưới 20 triệu đồng phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt
Theo khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 quy định: Các hàng hóa, dịch vụ mua vào đều phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, trừ một số trường hợp đặc thù theo quy định của Chính phủ.
Hiện hành, hàng hoá, dịch vụ mua từng lần có giá trị dưới 20 triệu đồng thì không cần có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để khấu trừ thuế GTGT theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Thuế giá trị gia tăng 2008.
– Bổ sung một số chứng từ bắt buộc để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào
Theo khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024, đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải có: hợp đồng ký kết với bên nước ngoài về việc bán, gia công hàng hóa, cung cấp dịch vụ; hóa đơn bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ; chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt; tờ khai hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu; phiếu đóng gói, vận đơn, chứng từ bảo hiểm hàng hóa (nếu có). Chính phủ quy định về điều kiện khấu trừ đối với trường hợp xuất khẩu hàng hóa qua sàn thương mại điện tử ở nước ngoài và một số trường hợp đặc thù khác.
Hiện hành Luật Thuế giá trị gia tăng 2008 chưa có quy định về vấn đề này.
6. Bổ sung thêm trường hợp hoàn thuế giá trị gia tăng
Tại Điều 15 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 đã bổ sung thêm 01 trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng, cụ thể:
Cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ chịu thuế suất thuế giá trị gia tăng 5% nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên sau 12 tháng liên tục hoặc 04 quý liên tục thì được hoàn thuế giá trị gia tăng; trường hợp cơ sở kinh doanh sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ chịu nhiều mức thuế suất thuế giá trị gia tăng thì được hoàn thuế theo tỷ lệ phân bổ do Chính phủ quy định.