Trong bài viết này, sẽ tìm hiểu về các điều kiện mà các doanh nghiệp cần phải đáp ứng để được phép đưa người lao động đi xuất khẩu lao động theo hợp đồng lao động, đồng thời cung cấp các hướng dẫn chi tiết để tuân thủ các quy định pháp lý.
1.Điều Kiện Để Các Doanh Nghiệp Đưa Người Lao Động Đi Xuất Khẩu Lao Động Theo Hợp Đồng Lao Động
Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, hoạt động xuất khẩu lao động (XKLĐ) được cho là “cứu cánh” đối với hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, đây không chỉ là biện pháp thực hiện chủ trương giải quyết vấn đề an sinh xã hội, giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ lao động, tác phong làm việc… đồng thời góp phần vào phát triển kinh tế của các quốc gia.
Tuy nhiên, để tham gia vào hoạt động này, các doanh nghiệp cần tuân thủ một số điều kiện và quy định pháp lý nhất định. Dưới đây là một cái nhìn chi tiết về điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp đưa người lao động đi xuất khẩu lao động theo hợp đồng lao động.
Hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hay còn gọi là xuất khẩu lao động là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và chỉ được thực hiện bởi doanh nghiệp Việt Nam có Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng do Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh Xã hội cấp.

Căn cứ theo quy định tại Điều 10 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020 Điều kiện để doanh nghiệp được cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được quy định cụ thể như sau:
– Doanh nghiệp được cấp Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng khi có đủ các điều kiện sau đây:
+ Có vốn điều lệ từ 05 tỷ đồng trở lên; có chủ sở hữu, tất cả thành viên, cổ đông là nhà đầu tư trong nước theo quy định của Luật Đầu tư 2020;
+ Đã ký quỹ theo quy định tại Điều 24 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020;
+ Có người đại diện theo pháp luật là công dân Việt Nam, trình độ từ đại học trở lên và có ít nhất 05 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng hoặc dịch vụ việc làm;
- Không thuộc diện đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;
- Không có án tích về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tội quảng cáo gian dối, tội lừa dối khách hàng, tội tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép, tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, tội cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép;
+ Có đủ số lượng nhân viên nghiệp vụ thực hiện các nội dung quy định tại Điều Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020;
+ Có cơ sở vật chất của doanh nghiệp hoặc được doanh nghiệp thuê ổn định để đáp ứng yêu cầu giáo dục định hướng cho người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
+ Có trang thông tin điện tử.
– Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Tiền ký quỹ của doanh nghiệp được quy định tại Điều 24 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng 2020;
Điều 24. Tiền ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ
- Tiền ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ được gửi tại ngân hàng và chỉ được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp dịch vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày tiền ký quỹ được sử dụng, doanh nghiệp dịch vụ phải hoàn trả số tiền đã sử dụng và bảo đảm mức ký quỹ theo quy định.
- Trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều 29 của Luật này, tiền ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội sử dụng để thanh toán các nghĩa vụ phát sinh đối với người lao động chưa thanh lý hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài tại thời điểm chuyển giao; sau khi trừ phí dịch vụ ngân hàng, nếu tiền ký quỹ còn thừa thì doanh nghiệp dịch vụ được sử dụng để thanh toán các khoản nợ khác theo quy định của pháp luật về phá sản.
- Chính phủ quy định chi tiết mức ký quỹ, việc quản lý, sử dụng tiền ký quỹ và trường hợp doanh nghiệp dịch vụ giải thể, bị thu hồi hoặc nộp lại Giấy phép.
2.Ký quỹ của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm
Căn cứ theo Điều 23 Nghị định 23/2021/NĐ-CP có quy định về việc sử dụng tiền ký quỹ của doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm như sau:
- Ký quỹ và sử dụng tiền ký quỹ
- Doanh nghiệp thực hiện ký quỹ theo mức quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định này tại ngân hàng thương mại của Việt Nam hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam (sau đây gọi là ngân hàng nhận ký quỹ).
- Tiền ký quỹ của doanh nghiệp được sử dụng trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động dịch vụ việc làm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày rút tiền ký quỹ để thanh toán đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều 26 Nghị định này, doanh nghiệp phải nộp bổ sung tiền ký quỹ bảo đảm theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Nghị định này.
- Trong thời hạn không quá 30 ngày, kể từ ngày hết hạn quy định tại khoản 3 Điều này mà doanh nghiệp không bổ sung đầy đủ tiền ký quỹ thì ngân hàng nhận ký quỹ có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Sở Lao động – Thương binh và Xã hội nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của ngân hàng nhận ký quỹ, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi giấy phép của doanh nghiệp theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 21 Nghị định này.
Như vậy doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm được sử dụng tiền quý ký quỹ trong trường hợp doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trong hoạt động dịch vụ việc làm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

- Mức ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ
Căn cứ theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 112/2021/NĐ-CP, mức mức ký quỹ của doanh nghiệp dịch vụ được quy định như sau:
– Doanh nghiệp thực hiện ký quỹ 2.000.000.000 đồng (Hai tỷ đồng) tại một ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
– Doanh nghiệp dịch vụ giao nhiệm vụ cho chi nhánh thực hiện hoạt động dịch vụ đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng phải ký quỹ thêm 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) đối với mỗi chi nhánh được giao nhiệm vụ.
Kết luận
Những điều kiện trên đây không chỉ đảm bảo sự hợp pháp của hoạt động xuất khẩu lao động mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp trong ngành. Đồng thời, việc tuân thủ các quy định này cũng bảo vệ quyền lợi và an toàn của người lao động, góp phần xây dựng một môi trường lao động lành mạnh và công bằng.
Trên đây là toàn văn bài viết của Luật Việt Anh về Điều Kiện Để Các Doanh Nghiệp Đưa Người Lao Động Đi Xuất Khẩu Lao Động Theo Hợp Đồng Lao Động. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào liên quan tới bài viết hoặc các vấn đề pháp lý về luật doanh nghiệp khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ Công ty Luật Việt Anh để được Luật sư tư vấn miễn phí