Đối với người lao động là người Việt Nam
Nghĩa vụ báo cáo tình hình sử dụng lao động
Nhà đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và sử dụng lao động Việt Nam phải tuân thủ quy định về lao động và sử dụng lao động theo Bộ luật Lao động năm 2019.
Theo đó, pháp luật về lao động Việt Nam quy định người sử dụng lao động (trong trường hợp này là nhà đầu tư nước ngoài) báo cáo về tình hình sử dụng lao động (báo cáo sử dụng lao động) trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày bắt đầu hoạt động. Và trong thời gian còn hoạt động và sử dụng, người sử dụng lao động phải định kỳ báo cáo tình hình lao động cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan bảo hiểm xã hội
Cụ thể, theo Khoản 1 Điều 73 Nghị định 35/2022/NĐ-CP sửa đổi Khoản 2 Điều 4 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, người sử dụng lao động phải báo cáo định kỳ 06 tháng (trước ngày 05 tháng 6) và hàng năm (trước ngày 05 tháng 12) tình hình sử dụng lao động đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.
Như vậy, trong năm đầu tiên hoạt động, người sử dụng lao động phải báo cáo tình hình sử dụng lao động tổng cộng 03 lần. Lần đầu tiên, người sử dụng lao động báo cáo trong vòng 30 ngày kể từ khi doanh nghiệp hoạt động. Lần thứ hai, người sử dụng lao động báo cáo định kỳ trước ngày 05 tháng 6 và lần thứ 3 là báo cáo hàng năm trước ngày 05 tháng 12.
Thực hiện nghĩa vụ báo cáo sử dụng lao động.
Theo quy định của pháp luật lao động, người sử dụng lao động phải báo cáo tình hình thay đổi về lao động đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia theo mẫu và thông báo đến cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện.
Trường hợp doanh nghiệp không thể báo cáo tình hình thay đổi lao động thông qua Cổng Dịch vụ công Quốc gia thì gửi báo cáo bằng bản giấy theo Mẫu số 01/PLI Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 145/2020/NĐ-CP đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và thông báo đến cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện.
Đối với lao động làm việc trong khu công nghiệp, khu kinh tế thì doanh nghiệp phải báo cáo tình hình thay đổi lao động đến Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện nơi đặt trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện và Ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế để theo dõi.
Đối với người lao động là người nước ngoài
Kỳ báo cáo sử dụng lao động
Đối với người lao động là người nước ngoài, thời điểm người sử dụng lao động báo cáo về tình hình sử dụng lao động có sự khác biệt so với người lao động là người Việt Nam. Theo Nghị định 70/2023/NĐ-CP, người sử dụng lao động phải báo cáo trước ngày 05 tháng 7 đối với báo cáo định kỳ và 05 tháng 1 của năm kế tiếp đối với báo cáo hàng năm.
Thời gian chốt số liệu để báo cáo là từ ngày 15 tháng 12 của năm trước đến 14 tháng 6 của báo cáo định kỳ 06 tháng. Đối với báo cáo hàng năm, thời gian được tính từ ngày 15 tháng 12 của năm trước đến hết ngày 14 tháng 12 của năm báo cáo.
Nơi báo cáo sử dụng lao động
Trong trường hợp người lao động tiến hành việc xin cấp giấy phép lao động tại Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội (Cục Việc làm): doanh nghiệp tư nhân gửi báo cáo về Bộ, đồng thời gửi về Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố, nơi có người lao động nước ngoài làm việc.
Trong trường hợp người lao động tiến hành việc cấp giấy phép lao động tại Sở Lao động – Thương binh và Xã hội: doanh nghiệp tư nhân gửi báo cáo về Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh, thành phố, nơi có người lao động nước ngoài làm việc.
Xử phạt khi không báo cáo sử dụng lao động kịp thời
Người sử dụng lao động sẽ bị xử phạt hành chính do không báo cáo tình hình sử dụng lao động kịp thời với các mức phạt như sau:
Đối với người lao động là người Việt Nam, theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 8, Khoản 1 và 3 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân không báo cáo tình hình thay đổi về lao động theo quy định. Đối với tổ chức, mức phạt này là từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Đối với người lao động là người nước ngoài, theo căn cứ khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP, người sử dụng lao động không báo cáo về tình hình sử dụng người lao động nước ngoài thì bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền như sau: Từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân, từ 2.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động là tổ chức.